Trước khi móc cẩu, con số cần biết là khối lượng bó chứ không phải cảm giác nặng nhẹ. Ba số đủ để ra nó: đường kính thép, chiều dài cây và số cây trong bó. Bài này nói cách lấy ba số đó và những chỗ chúng hay sai.
Viết bởi Nguyễn Đỗ Tùng — hơn 15 năm trong nghề cơ điện tử, Cử nhân Cơ khí (ĐH Công nghiệp Hà Nội, 2010).
Công thức và ba số cần có
Khối lượng mỗi mét thép tròn tính từ đường kính danh nghĩa theo công thức quen dùng 0,006165 × d², trong đó d tính bằng milimét và kết quả ra kilôgam trên mét. Nhân tiếp với chiều dài cây và với số cây là ra khối lượng cả bó.
Công thức này là phép tính từ hình học và khối lượng riêng của thép, không phải trị số trích từ tiêu chuẩn nào, nên dùng thoải mái. Cách áp nó cho từng cỡ thép và cho việc mua bán có ở quy đổi thép cây ra kg.
Với thép vằn thì con số tính ra là khối lượng theo đường kính danh nghĩa, tức đã tính cả phần gân theo cách quy ước. Khối lượng cân thực tế có thể lệch so với số tính, và mức lệch cho phép thuộc về tiêu chuẩn của lô — xem dung sai thép theo TCVN 1651. Khi cẩu, hãy đứng về phía an toàn là lấy số lớn hơn.
Lấy từng số ở đâu khi bó còn buộc chặt?
| Số cần có | Lấy thế nào tại bãi | Sai ở chỗ nào |
|---|---|---|
| Đường kính | Đọc thẻ bó, rồi kiểm lại bằng thước cặp trên một cây bất kỳ | Tin thẻ bó mà không đo, trong khi bó trộn lẫn hai cỡ vẫn xảy ra |
| Chiều dài cây | Đo một cây, kiểm hai đầu bó có bằng nhau không | Bó gồm cây dài lẫn cây đã cắt ngắn, hai đầu nhìn phẳng nhưng bên trong so le |
| Số cây | Đếm ở mặt cắt đầu bó, đếm theo lớp rồi nhân | Lớp trong xếp thưa hơn lớp ngoài, nên nhân theo lớp cho số cao hơn thực tế |
| Phần bì | Cộng thêm dây buộc, thẻ, ba lét kê nếu nhấc cả | Bỏ qua phần kê phía dưới rồi nhấc luôn cả nó lên |
| Nước và bùn bám | Nhìn bó vừa dầm mưa hoặc nằm trên nền bùn | Bó ướt và dính bùn nặng hơn bó khô, dễ bị bỏ sót khi ước lượng |
Đếm theo lớp là cách nhanh nhất và cũng là cách sai nhiều nhất, vì lớp trong bó thường xếp thưa hơn lớp ngoài. Khi con số quyết định việc có cẩu hay không, hãy đếm thật ở mặt cắt đầu bó thay vì nhân theo lớp.
Vì sao con số này cần biết trước chứ không ước bằng mắt?
Vì bó thép có kích thước hình học rất gọn so với khối lượng của nó. Cùng một hình dáng, bó thép phi lớn nặng gấp nhiều lần bó thép phi nhỏ, nên mắt thường không phân biệt được hai bó nhìn giống nhau mà nặng khác nhau.
Con số ra trước cũng quyết định chuyện chia bó: một bó quá nặng thì chia đôi rồi cẩu hai lần, và quyết định đó phải có trước khi dây đã móc vào chứ không phải lúc cẩu đã nhấc lên.
Việc này gắn liền với cách sắp bó ở bãi: bó xếp lộn xộn thì không đếm được và không chia được — xem bãi để thép ngoài trời: kê chèn và sắp xếp.
Con số này dùng tiếp vào việc gì?
Dùng để đối chiếu với phiếu giao hàng ngay lúc nhận: khối lượng tính ra từ phi, chiều dài và số cây phải gần với khối lượng ghi trên phiếu. Lệch nhiều là dấu phải cân lại hoặc phải đếm lại, và đó là lúc còn đòi được — xem tiêu chí kiểm thép trước khi gia công.
Dùng để tính tải đặt lên sàn hoặc lên nền khi chất bó ở tầng trên hay trên sàn tạm. Cách quy đổi sang tải phân bố có ở tính tải trọng máy lên sàn và nền.
Dùng để tính tải xe khi chở tới xưởng, cùng bộ số đó — xem chở thép cây tới xưởng: chằng buộc và cong.
Chỗ nào bài này dừng lại?
Bài dừng ở con số khối lượng. Sức nâng cho phép của cẩu hoặc pa lăng, loại dây cáp hay xích phải dùng, cách móc và góc dây, hệ số phải nhân thêm — tất cả nằm trong tài liệu của chính thiết bị nâng đó và thuộc phạm vi của người được đào tạo về công tác nâng.
Lý do tách bạch rất thực tế: khối lượng là đại lượng tính được từ ba con số ai cũng lấy được, còn sức nâng phụ thuộc thiết bị cụ thể, tình trạng dây, cách móc và cả vị trí đứng của cẩu. Lấy số ở bài này rồi tự suy ra có cẩu được hay không là đi quá phạm vi của nó.
Cách dùng đúng là mang con số khối lượng tới cho người vận hành thiết bị nâng, cùng với thông tin bó dài bao nhiêu và có chia được không. Ghi lại con số đó vào sổ giao ca để lần sau khỏi tính lại — xem nhật ký máy: ghi gì để truy lỗi.
Sai lầm thường gặp
- Tin thẻ bó mà không đo lại đường kính bằng thước cặp.
- Nhân theo lớp để ra số cây, trong khi lớp trong xếp thưa hơn lớp ngoài.
- Quên phần kê phía dưới rồi nhấc luôn cả nó lên theo bó.
- Bỏ qua nước và bùn bám khi bó vừa dầm mưa hoặc nằm trên nền bùn.
- Ước bằng mắt vì bó nhìn gọn, trong khi bó phi lớn nặng gấp nhiều lần bó phi nhỏ cùng cỡ.
- Quyết định chia bó sau khi dây đã móc và cẩu đã nhấc lên.
Bài liên quan trong danh mục
Câu hỏi thường gặp
Ba số: đường kính thép, chiều dài cây và số cây trong bó. Khối lượng mỗi mét tính theo công thức quen dùng 0,006165 nhân với bình phương đường kính tính bằng milimét, ra kilôgam trên mét; nhân tiếp với chiều dài cây và số cây là ra cả bó. Nếu nhấc cả phần kê và dây buộc thì cộng thêm phần đó.
Đếm thật ở mặt cắt đầu bó. Cách nhân theo lớp nhanh hơn nhưng sai nhiều, vì lớp trong bó thường xếp thưa hơn lớp ngoài nên số ra cao hơn thực tế. Khi con số dùng để quyết định có cẩu hay không thì đếm thật là bắt buộc, còn khi chỉ cần ước lượng cho việc sắp xếp thì nhân theo lớp tạm được.
Thường gần nhau nhưng không trùng khít, vì con số tính ra dựa trên đường kính danh nghĩa còn thép thật có dung sai. Mức lệch cho phép thuộc về tiêu chuẩn mà lô thép viện dẫn. Khi dùng cho việc nâng hạ thì nên đứng về phía an toàn, tức lấy con số lớn hơn giữa hai cách.
Bó vừa dầm mưa hoặc nằm trên nền bùn nặng hơn bó khô, phần chênh đó không tính được bằng công thức nhưng cũng không nên bỏ qua khi ước lượng. Cách xử lý đơn giản là ghi nhận tình trạng bó lúc cẩu và cộng thêm một phần dự phòng, thay vì coi bó ướt và bó khô như nhau.
Không. Sức nâng cho phép, loại dây cáp hay xích, cách móc và góc dây đều thuộc tài liệu của chính thiết bị nâng và thuộc phạm vi người được đào tạo về công tác nâng. Việc của con số khối lượng là đưa cho người đó làm đầu vào, kèm thông tin bó dài bao nhiêu và có chia nhỏ được không.
Cần tư vấn theo nhu cầu cụ thể?
Gửi thông tin công trình/xưởng — chúng tôi tư vấn chọn đúng model theo đúng nhu cầu của bạn.
Gửi yêu cầu tư vấn