Cơ Khí Xây Dựng Trường An

Dung sai đường kính, khối lượng thép cây theo TCVN 1651

7 phút đọc
Dung sai thép theo TCVN
Trả lời nhanh

TCVN 1651 quy định dung sai đường kính, khối lượng và chiều dài thép cốt bê tông tròn trơn xuất xưởng, nhưng trị số nằm trong bản tiêu chuẩn trả phí. Trang này nêu tra ở đâu, và phân biệt dung sai NGUYÊN LIỆU với độ chính xác máy bẻ đai, máy cắt tạo ra khi gia công.

NT

Viết bởi Nguyễn Đỗ Tùng — hơn 15 năm trong nghề cơ điện tử, Cử nhân Cơ khí (ĐH Công nghiệp Hà Nội, 2010).

Khối lượng lý thuyết theo đường kính — và chỗ tra trị số dung sai

Khối lượng lý thuyết (0,006165 × d²)Đường kínhKhối lượng/mØ6 mm0,222 kg/mØ8 mm0,395 kg/mØ10 mm0,617 kg/mØ12 mm0,888 kg/mBiên độ dung sai: tra TCVN 1651-1 hoặc CQ của lô thép

Bảng trên là khối lượng lý thuyết, tính ra từ công thức 0,006165 × d² — xem quy đổi thép cây ra kg. Đây là một phép tính, ai cũng dựng lại được, nên trang này đăng thẳng.

Còn biên độ dung sai cho phép thì trang này nói rõ giới hạn của mình: con số đó là nội dung của TCVN 1651-1 (Thép cốt bê tông — Phần 1: Thép thanh tròn trơn), một tiêu chuẩn bán bản quyền, nên chúng tôi dẫn tên và số hiệu chứ không chép trị số ra đây.

Ở xưởng thì có đường tra gần hơn bản tiêu chuẩn: chứng chỉ chất lượng (CQ) đi kèm lô thép do nhà máy cán phát hành có ghi biên độ áp dụng cho đúng lô đó. Đòi CQ theo số hiệu lô nhanh hơn, và sát với thép đang nằm trên bãi hơn là tra tiêu chuẩn gốc — cách đọc tờ giấy đó ở cầm tờ CO/CQ thì đọc dòng nào.

Bảng chỉ nêu 4 cỡ phổ biến (Ø6-Ø12) — các cỡ lớn hơn (Ø16, Ø20, Ø25...) tính bằng đúng công thức đó, thay d vào là ra.

Chiều dài xuất xưởng: vì sao chỉ được dư mà không được hụt

Tiêu chuẩn cho phép thanh thép cây xuất xưởng dài hơn chiều dài danh nghĩa một khoảng, nhưng không cho phép ngắn hơn. Lý do nằm ở phía công trình: thép dư thì cắt bỏ được, thép hụt thì không đủ chiều dài neo/nối theo thiết kế, và không có cách nào bù lại ngoài việc thay thanh khác.

Hệ quả ở xưởng gia công là chiều dài đầu vào giữa các thanh trong cùng một lô không đồng nhất tuyệt đối. Khi cắt lô lớn theo sơ đồ, phần dư này cộng dồn thành sai khác thật ở thanh cuối — xem sơ đồ cắt thanh chữ tối ưu.

Khoảng dư cụ thể được phép là bao nhiêu thì tra TCVN 1651-1 hoặc CQ của lô, vì đó là trị số của tiêu chuẩn.

Chưa tra được tiêu chuẩn thì ở xưởng nhìn vào đâu?

Bảng dưới đổi câu hỏi từ "biên độ cho phép là bao nhiêu" sang "nhìn thấy gì thì dừng lại hỏi". Mỗi dòng là thứ cân, đo hoặc đối chiếu được ngay tại bãi, không cần bản tiêu chuẩn trong tay.

Cân / đo / nhìn thấy gìNghĩa là gìLàm gì tiếp
Cân cả bó rồi chia ra kg/m, thấp hơn số lý thuyết ở bảng trênThép nhẹ hơn danh nghĩa — có thể còn trong biên độ, có thể đã ra ngoàiĐối chiếu CQ của đúng lô đó; lệch quá biên ghi trong CQ thì lập biên bản trước khi cho nhập bãi
Thước cặp đo thân cây ra số nhỏ hơn phi ghi trên nhãnVới thép vằn, thân cây không phải chỗ so chuẩnCăn cứ chính là khối lượng cân được; số đo thân chỉ để tham khảo, đừng lấy làm bằng chứng từ chối
Các cây trong cùng một bó cho số cân lệch nhau rõ rệtLệch bên trong một lô — dấu hiệu trộn lô, nặng hơn lệch đềuTách riêng phần nghi ngờ, yêu cầu CQ khớp số hiệu lô dập trên thẻ bó
Cây ngắn hơn chiều dài đặt hàngHụt chiều dài — chiều mà tiêu chuẩn không cho phépTừ chối nhận phần hụt. Đây là ca dứt khoát, không phải ca thương lượng
Cây dài hơn chiều dài đặt hàng vài phânNằm ở chiều tiêu chuẩn cho phép dưNhận, nhưng tính lại sơ đồ cắt vì phôi đầu vào không đồng nhất
Cắt một lô dài mà cữ chặn phải chỉnh lại giữa chừngĐường kính đầu vào dao động đủ để cữ nhả khác điKiểm thép trước, đừng chỉnh máy trước — xem tiêu chí kiểm thép trước khi gia công

Phân biệt: dung sai NGUYÊN LIỆU vs độ chính xác MÁY GIA CÔNG

TCVN 1651 quy định dung sai của thép TRƯỚC khi qua máy — tức sai lệch cho phép ngay từ nhà máy cán ra. Đây KHÔNG phải là độ chính xác mà máy bẻ đai hay máy cắt sắt tạo ra khi gia công — độ chính xác máy là thông số riêng của từng model (do nhà sản xuất máy công bố), không nằm trong TCVN 1651.

Hai khái niệm dễ bị nhầm khi đọc thông số: "dung sai thép" (vật liệu, theo TCVN) và "độ chính xác máy" (thiết bị, theo nhà sản xuất) là hai con số khác nguồn hoàn toàn.

Vì sao cần biết dung sai nguyên liệu khi vận hành máy

Cữ chặn và khuôn của máy bẻ đai/cắt cần đủ dung sai để nhận thép có đường kính dao động nhẹ trong biên độ TCVN cho phép — nếu cữ/khuôn quá khít theo đúng đường kính danh nghĩa, thép lệch dung sai nhẹ có thể gây kẹt hoặc lỏng khi nạp vào máy.

Dung sai nguyên liệu chạm vào những việc nào ở xưởng?

Bốn việc, và ở cả bốn thì lẫn hai loại dung sai là ca tranh cãi phổ biến nhất. Khi ĐO NGHIỆM THU: đo ở đỉnh gân hay ở thân cho hai số khác nhau, nên phải thống nhất cách đo trước khi bàn đạt hay không — xem dụng cụ đo kiểm ở xưởng gia công thép.

Khi QUY ĐỔI KHỐI LƯỢNG để đặt hàng và quyết toán, vì dung sai khối lượng đi thẳng vào con số tấn — xem quy đổi thép cây ra kg.

Khi TRUY MỘT CÂY ĐO SAI: bước đầu là phân biệt sai lẻ với sai hệ thống, và dung sai nguyên liệu là một trong các nguồn phải loại — xem đo ra một cây đai sai kích thước.

Và khi NHẬN HÀNG: dung sai là thứ phải thống nhất trước khi ký, cùng nguyên tắc ở nhận lô đai tại công trường: kiểm gì.

Và khi KIỂM THÉP TRƯỚC KHI ĐƯA VÀO MÁY, vì thép ngoài dung sai thì máy chỉnh cách nào cũng không bù được — xem tiêu chí kiểm thép trước khi gia công.

Sai lầm thường gặp

  • Giả định mọi thanh thép cây đều đúng tuyệt đối phi danh nghĩa — bỏ qua dung sai TCVN cho phép dẫn tới bất ngờ khi cữ/khuôn máy không vừa khít.
  • Nhầm dung sai thép (TCVN, vật liệu) với độ chính xác máy (nhà sản xuất, thiết bị) khi so sánh thông số giữa các nhà cung cấp.

Bài liên quan trong danh mục

Xem danh mục
Máy cắt sắt
Về trang danh mục

Câu hỏi thường gặp

Dung sai TCVN 1651 có áp dụng cho thép vằn (gân) không?

TCVN 1651 có phần riêng cho thép vằn với quy tắc dung sai khác thép tròn trơn — với thép vằn, sai lệch khối lượng không được thay thế bằng dung sai đường kính như thép tròn trơn.

Máy bẻ đai có tự bù dung sai đường kính thép không?

Cữ và khuôn máy thường có biên độ chấp nhận dung sai nguyên liệu ở mức hợp lý, nhưng mức độ bù cụ thể tùy thiết kế từng model — nên hỏi nhà cung cấp máy nếu dùng thép có dung sai sát biên trên/dưới.

Vì sao chiều dài thép xuất xưởng chỉ được dư (+) mà không được thiếu (-)?

Vì thép ngắn hơn danh nghĩa sẽ không đủ chiều dài dùng theo thiết kế công trình — tiêu chuẩn chỉ cho phép dư ra (an toàn hơn) chứ không cho phép hụt.

Cần tư vấn theo nhu cầu cụ thể?

Gửi thông tin công trình/xưởng — chúng tôi tư vấn chọn đúng model theo đúng nhu cầu của bạn.

Gửi yêu cầu tư vấn
Gọi Zalo Báo giá