Cơ Khí Xây Dựng Trường An

Quy đổi khối lượng cuộn thép ra số mét và số thanh cắt được

Quy đổi cuộn thép ra số mét
Trả lời nhanh

Cuộn thép mua theo kg nhưng máy duỗi cắt làm việc theo mét, nên cần đổi: số mét = khối lượng cuộn (kg) ÷ khối lượng mỗi mét (kg/m). Một cuộn Ø8 nặng 2.000kg cho khoảng 5.063m thép, tương đương 1.687 thanh dài 3m — nhiều hơn 30% so với cùng khối lượng thép cây cắt cùng cỡ thanh.

NT

Viết bởi Nguyễn Đỗ Tùng — hơn 15 năm trong nghề cơ điện tử, Cử nhân Cơ khí (ĐH Công nghiệp Hà Nội, 2010).

Vì sao phải đổi kg cuộn sang mét?

Phiếu cân cuộn ghi khối lượng, còn lệnh sản xuất ghi số thanh và chiều dài mỗi thanh. Hai đơn vị này chỉ nối được với nhau qua khối lượng mỗi mét của đúng phi thép đang chạy. Thiếu bước đổi này thì không biết một cuộn chạy được bao nhiêu thanh, dẫn tới đặt thiếu hoặc thừa phôi cho đơn hàng.

Công thức là phép chia ngược của công thức tính khối lượng: số mét = khối lượng ÷ (kg/m). Trị số kg/m theo từng phi đã có ở bảng quy đổi thép cây ra kg — cùng một bảng, dùng theo chiều ngược lại. Đây là bước chuẩn bị phôi cho máy duỗi cắt sắt, nhóm máy nhận phôi dạng cuộn thay vì cây.

Một cuộn 1.000kg cho bao nhiêu mét thép?

Phi thépKhối lượng lý thuyết (kg/m)Số mét trên mỗi 1.000kg
Ø60,2221.000 ÷ 0,222 ≈ 4.504,5m
Ø80,3951.000 ÷ 0,395 ≈ 2.531,6m
Ø100,6171.000 ÷ 0,617 ≈ 1.620,7m
Ø120,8881.000 ÷ 0,888 ≈ 1.126,1m

Cột kg/m lấy nguyên từ bảng khối lượng lý thuyết theo đường kính (suy từ khối lượng riêng thép 7.850kg/m³), cột số mét là phép chia trực tiếp — không có số liệu lấy từ ngoài. Đây là số LÝ THUYẾT: khối lượng thực tế của thép dao động trong dung sai cho phép, xem dung sai đường kính và khối lượng theo TCVN 1651.

Từ số mét ra số thanh thành phẩm tính thế nào?

Ví dụ đầy đủ: cuộn thép Ø8 cân được 2.000kg, cần cắt thành thanh dài 3m. Bước 1 — số mét: 2.000 ÷ 0,395 ≈ 5.063,3m. Bước 2 — số thanh: 5.063,3 ÷ 3 ≈ 1.687,8, lấy phần nguyên là 1.687 thanh, phần dư khoảng 2,29m là đoạn cuối cuộn không đủ một thanh.

Khác với thép cây, cuộn chỉ sinh ra MỘT đoạn dư ở cuối cả cuộn, không phải một đầu mẩu trên mỗi cây. Đó là lý do cùng khối lượng, cuộn cho nhiều thanh hơn — chi tiết so sánh ở mục dưới. Cách xử lý đầu mẩu khi cắt từ cây thì xem cách xếp phôi để ít đầu mẩu nhất.

Luôn lấy PHẦN NGUYÊN khi chia ra số thanh: 1.687,8 nghĩa là 1.687 thanh đủ chiều dài, phần 0,8 còn lại không thành thanh thứ 1.688. Để quy tiếp ra thời gian máy chạy, xem cách tính thời gian duỗi thép theo mét dài.

Cùng khối lượng, cuộn cho nhiều thanh hơn cây bao nhiêu?

Dạng phôiCách cắt thanh 3mSố thanh từ 2.000kg thép Ø8
Thép cuộnCắt liên tục, chỉ 1 đoạn dư cuối cuộn (~2,29m)⌊5.063,3 ÷ 3⌋ = 1.687 thanh
Thép cây 11,7mMỗi cây 3 thanh, mỗi cây dư 2,7m (bỏ 23,08%)432 cây × 3 = 1.296 thanh
Chênh lệchDo đầu mẩu lặp lại trên từng cây+391 thanh, tương đương +30,2%

Phép tính: 2.000kg Ø8 ≈ 5.063,3m ≈ 432,8 cây 11,7m (lấy 432 cây nguyên). Mỗi cây 11,7m chỉ cắt được 3 thanh 3m, dư 2,7m. Con số +30,2% này chỉ đúng cho đúng cặp (chiều dài thanh 3m, cây 11,7m) — thanh 3,9m thì cây 11,7m chia chẵn và chênh lệch gần như biến mất. Phải tính lại theo cỡ thanh của mình, xem cách tính đầu mẩu theo từng cỡ phôi.

Dùng con số này để làm gì?

  • Đặt đúng số cuộn cho một đơn hàng: từ số thanh cần, chia ngược ra số mét rồi ra khối lượng cuộn phải mua.
  • Đối chiếu phiếu cân với sản lượng thực tế cuối lô — hụt nhiều hơn phần dư cuối cuộn là dấu hiệu cần kiểm lại cữ chặn chiều dài.
  • So sánh phương án dùng phôi cuộn với phôi cây trước khi quyết định đầu tư dòng máy — xem khi nào cần máy duỗi cắt tự động.
  • Ước lượng khối lượng thành phẩm để lập kế hoạch lưu kho và vận chuyển theo từng cuộn.

Sai lầm thường gặp

  • Lấy kg/m của phi khác để tính cho phi đang chạy — chênh lệch rất lớn: mỗi 1.000kg thép Ø6 dài gấp khoảng 4 lần thép Ø12 (4.504,5m so với 1.126,1m).
  • Coi khối lượng lý thuyết là khối lượng cân thực — số mét thật của cuộn có thể lệch nhẹ trong biên độ dung sai vật liệu, xem dung sai theo TCVN 1651.
  • Làm tròn LÊN số thanh — phần dư cuối cuộn không đủ chiều dài thì không phải một thanh thành phẩm.
  • Quên trừ phần thép bị bỏ ở đầu cuộn khi đầu cuộn bị bẹp/gỉ, phải cắt bỏ trước khi nạp máy — phần này không có trong công thức, phải đo thực tế.

Bài liên quan trong danh mục

Xem danh mục
Máy uốn & duỗi sắt
Về trang danh mục

Câu hỏi thường gặp

Vì sao cùng 1.000kg mà thép Ø6 dài hơn thép Ø12 nhiều lần?

Vì khối lượng mỗi mét tỷ lệ với bình phương đường kính: Ø6 chỉ 0,222kg/m còn Ø12 tới 0,888kg/m — gấp 4 lần, nên cùng khối lượng thì số mét ít hơn 4 lần.

Số mét tính theo công thức có đúng bằng số mét thực của cuộn không?

Gần đúng, không bằng chính xác. Công thức dùng khối lượng LÝ THUYẾT, còn thép thực tế có dung sai đường kính/khối lượng cho phép nên số mét thật lệch nhẹ so với kết quả tính.

Phôi cuộn luôn lợi hơn phôi cây phải không?

Không phải luôn luôn. Cuộn lợi ở chỗ chỉ có một đoạn dư cuối cuộn thay vì đầu mẩu trên từng cây, nhưng mức lợi phụ thuộc cỡ thanh cần cắt: nếu chiều dài thanh chia chẵn cho chiều dài cây thì chênh lệch gần như biến mất.

Có cần tính thêm phần thép bị mất khi duỗi không?

Duỗi là nắn thẳng, không tiêu tốn chiều dài như cắt bằng đĩa. Phần phải trừ thực tế là đoạn đầu cuộn bị bẹp/gỉ phải bỏ trước khi nạp máy — đo thực tế, không có trong công thức.

Cần tư vấn theo nhu cầu cụ thể?

Gửi thông tin công trình/xưởng — chúng tôi tư vấn chọn đúng model theo đúng nhu cầu của bạn.

Gửi yêu cầu tư vấn
Gọi ngay Zalo