Máy nằm chờ phụ tùng là khoản không ai xuất hóa đơn nên cũng không ai tính, và vì không tính nên mọi quyết định về mức trữ đều dựa vào cảm giác. Con số này lấy được từ sổ của chính xưởng, không cần tra ở đâu khác.
Viết bởi Nguyễn Đỗ Tùng — hơn 15 năm trong nghề cơ điện tử, Cử nhân Cơ khí (ĐH Công nghiệp Hà Nội, 2010).
Bốn khoản cấu thành một ngày máy nằm
| Khoản | Lấy số từ đâu trong xưởng mình | Ghi chú khi lấy |
|---|---|---|
| Phần việc lẽ ra làm được trong ngày đó | Sổ giao hàng hoặc phiếu gia công của những ngày máy chạy bình thường | Lấy nhịp trung bình nhiều ngày, đừng lấy ngày cao nhất |
| Tiền công người đứng máy trong thời gian không có việc | Bảng công của chính xưởng | Chỉ tính phần thật sự không chuyển sang việc khác được |
| Phần phải thuê ngoài hoặc chạy tăng ca để bù | Chứng từ thuê gia công và bảng tăng ca của các lần trước | Đây là khoản thường lớn nhất và cũng dễ tra nhất |
| Phần trễ hẹn với khách | Đếm số đơn bị lùi ngày trong các lần máy nằm trước đây | Không quy ra tiền được thì ghi bằng số đơn, vẫn dùng để so được |
Khoản thứ ba là khoản dễ lấy số thật nhất vì nó có chứng từ, nên xưởng nào chưa từng tính bao giờ thì bắt đầu từ đúng khoản đó. Khoản thứ tư không quy ra tiền được thì để nguyên dạng số đơn, vì mục đích ở đây là so sánh chứ không phải hạch toán.
Cách lấy số ngày nằm cho đúng
Số ngày nằm không bằng thời gian chờ hàng về. Nó tính từ lúc máy dừng tới lúc máy chạy lại được, tức gồm cả thời gian dò ra hỏng gì, thời gian tìm nơi đặt, thời gian hàng về, và thời gian lắp thử. Bỏ ba đoạn đầu là lý do các phép tính kiểu này hay ra số thấp hơn thực tế.
Cách lấy chắc nhất là ghi lại từ lần dừng máy tới: ghi giờ dừng, ghi giờ chạy lại được, ghi hỏng cụm gì và đặt ở đâu. Vài lần là có dãy số thật của chính xưởng mình, luôn khác con số nghe kể từ nơi khác — cách ghi có ở nhật ký máy ghi gì để truy lỗi.
Với cụm thuộc nhóm khó kiếm thì phần thời gian tìm nơi đặt có thể dài hơn cả phần hàng về. Cách tra trước mức khó kiếm ở máy cũ còn kiếm được phụ tùng không.
Dùng con số đó để quyết trữ hay không trữ
Đặt hai vế cạnh nhau: một bên là vốn nằm trong món phụ tùng trữ sẵn, một bên là chi phí một ngày máy nằm nhân với số ngày chờ của chính món đó. Món nào mà vế phải vượt hẳn vế trái thì trữ, và phép so này làm được cho từng món chứ không làm chung.
Nhân thêm tần suất hỏng để khỏi trữ nhầm. Món hỏng hiếm mà chờ lâu vẫn có thể đáng trữ nếu nó làm dừng cả chuyền, còn món hỏng thường mà mua đâu cũng có thì không cần — cách phân nhóm ở trữ phụ tùng dự phòng cho máy và tính số lưỡi cắt cần trữ trong kho.
Và nhớ vế thứ ba ít ai đặt vào: một số món trữ được bằng cách giữ máy cũ cùng dòng làm nguồn phụ tùng, thay vì trữ từng món rời.
Con số này còn dùng được vào đâu nữa
- Quyết định mua máy cũ hay máy mới: máy khó kiếm phụ tùng cộng thêm một khoản không nhìn thấy trong giá.
- Quyết định có nên hoãn bảo trì trong đợt cao điểm hay không, xem hoãn bảo trì trong đợt cao điểm.
- Quyết định có nên giữ một máy cũ làm máy dự phòng thay vì bán đi.
- Cộng vào giá khi thẩm định máy cũ, xem tính chi phí sửa máy cũ cộng vào giá mua.
- Cân nhắc giữa thuê máy và mua máy khi sự cố kéo dài, xem thuê bao nhiêu tháng thì nên mua máy.
- Thuyết phục chính mình chi cho một món phụ tùng trông có vẻ đắt, bằng số thay vì bằng cảm giác.
Vì sao con số này luôn bị đánh giá thấp
Vì phần lớn thiệt hại không đi qua sổ sách. Người đứng máy chuyển sang làm việc khác nên tiền công vẫn trả và không ai thấy mất gì, đơn hàng lùi vài ngày thì khách vẫn nhận nên không có khoản nào ghi lại.
Vì thiệt hại rơi rải rác chứ không dồn một chỗ: một phần vào tăng ca tuần sau, một phần vào đơn giao trễ, một phần vào việc phải thuê ngoài. Không ai gom lại nên không ai thấy tổng.
Và vì lần máy nằm nào cũng được nhớ như một sự cố riêng lẻ. Chỉ khi ghi lại vài lần liên tiếp thì dãy số mới cho thấy đây là khoản đều đặn, và lúc đó quyết định về mức trữ mới đổi.
Sai lầm thường gặp
- Lấy thời gian hàng về làm số ngày nằm, bỏ qua thời gian dò hỏng và thời gian tìm nơi đặt.
- Bỏ khoản thuê ngoài và tăng ca để bù, khoản thường lớn nhất và lại có chứng từ rõ nhất.
- Tính theo ngày sản lượng cao nhất thay vì nhịp trung bình nhiều ngày.
- Quy hết mọi thứ ra tiền, kể cả phần trễ hẹn vốn nên để nguyên dạng số đơn.
- So mức trữ chung cho mọi món thay vì so từng món một.
- Không ghi lại từ lần dừng máy tới, nên vẫn dùng con số nghe kể từ nơi khác.
Bài liên quan trong danh mục
Câu hỏi thường gặp
Bốn khoản: phần việc lẽ ra làm được trong ngày đó lấy từ sổ giao hàng những ngày chạy bình thường, tiền công người đứng máy trong phần thời gian không chuyển sang việc khác được, phần phải thuê ngoài hoặc chạy tăng ca để bù, và phần trễ hẹn với khách. Khoản thứ ba dễ lấy số thật nhất vì có chứng từ.
Từ lúc máy dừng tới lúc máy chạy lại được, gồm cả thời gian dò ra hỏng gì, thời gian tìm nơi đặt, thời gian hàng về và thời gian lắp thử. Lấy riêng thời gian hàng về là lý do các phép tính kiểu này hay ra số thấp hơn thực tế, nhất là với cụm thuộc nhóm khó kiếm khi phần tìm nơi đặt có thể dài hơn cả phần hàng về.
Đặt hai vế cạnh nhau: vốn nằm trong món phụ tùng trữ sẵn, so với chi phí một ngày máy nằm nhân số ngày chờ của chính món đó. Vế phải vượt hẳn thì trữ. Nhân thêm tần suất hỏng để khỏi trữ nhầm, và làm phép so cho từng món riêng chứ không làm chung cho cả tủ phụ tùng.
Vì phần lớn thiệt hại không đi qua sổ sách: người đứng máy chuyển sang việc khác nên tiền công vẫn trả và không ai thấy mất gì. Vì thiệt hại rơi rải rác vào tăng ca tuần sau, đơn giao trễ và việc thuê ngoài nên không ai gom lại thấy tổng. Và vì mỗi lần máy nằm được nhớ như một sự cố riêng lẻ.
Bắt đầu từ lần dừng máy tới: ghi giờ dừng, giờ chạy lại được, hỏng cụm gì và đặt ở đâu. Vài lần là có dãy số thật của chính xưởng mình. Song song đó lật lại chứng từ thuê gia công và bảng tăng ca của các lần trước, vì khoản đó đã có sẵn số thật mà không cần chờ lần dừng máy kế tiếp.
Cần tư vấn theo nhu cầu cụ thể?
Gửi thông tin công trình/xưởng — chúng tôi tư vấn chọn đúng model theo đúng nhu cầu của bạn.
Gửi yêu cầu tư vấn