Câu hỏi thật không phải thuê hay mua, mà là dùng bao nhiêu tháng thì mua rẻ hơn. Điểm hoà tính được bằng cách chia tổng chi phí sở hữu cho chi phí thuê mỗi tháng, với điều kiện cả hai vế được tính đủ khoản chứ không chỉ so giá thuê với giá máy.
Viết bởi Nguyễn Đỗ Tùng — hơn 15 năm trong nghề cơ điện tử, Cử nhân Cơ khí (ĐH Công nghiệp Hà Nội, 2010).
Khung tính điểm hoà
Vế thuê gồm: giá thuê mỗi tháng, cộng chi phí vận chuyển mỗi lần thuê và trả, cộng thời gian chờ máy về. Vế mua gồm: giá máy, cộng chi phí lắp đặt và đấu điện, cộng bảo trì và phụ tùng trong suốt thời gian dùng, trừ đi giá trị còn lại khi bán lại.
Điểm hoà là số tháng mà tổng hai vế bằng nhau. Dùng ít hơn số đó thì thuê rẻ hơn, dùng nhiều hơn thì mua rẻ hơn. Điều đáng chú ý là giá trị bán lại làm điểm hoà lùi lại đáng kể, và đó là khoản hay bị bỏ quên nhất ở vế mua.
Khi máy sẽ chạy liên tục và câu hỏi là bao lâu thì thu hồi được vốn qua sản lượng, phép tính khác hẳn — xem bài toán hoàn vốn nhóm máy và bài toán hoàn vốn máy bẻ đai.
Bốn khoản hai bên không giống nhau
| Khoản | Khi thuê | Khi mua |
|---|---|---|
| Hỏng hóc giữa chừng | Bên cho thuê lo, nhưng mình mất thời gian chờ đổi máy | Mình lo toàn bộ, đổi lại là chủ động thời điểm sửa |
| Thời gian máy nằm không | Không trả tiền nếu trả máy đúng lúc | Vẫn khấu hao, vẫn chiếm chỗ trong xưởng |
| Tay nghề thợ | Mỗi lần thuê có thể là một máy khác, thợ phải làm quen lại | Thợ quen một máy, năng suất lên dần theo thời gian |
| Chủ động lịch | Phụ thuộc máy còn trống hay không vào đúng lúc cần | Muốn chạy lúc nào cũng được, kể cả đêm và cuối tuần |
| Chi phí cuối kỳ | Trả máy, kiểm tình trạng, có thể bị trừ nếu hư hỏng | Bán lại thu về một phần, hoặc giữ làm máy dự phòng |
Dòng thứ ba ít được tính bằng tiền nhưng ảnh hưởng thật tới năng suất. Dòng thứ tư mới là dòng quyết định trong nhiều ca: với công trình có tiến độ chặt, chủ động lịch đáng giá hơn cả phần chênh lệch chi phí.
Ba trường hợp con số đúng nhưng kết luận sai
Thứ nhất: tính theo tổng số tháng của dự án, trong khi máy chỉ dùng vài tuần trong mỗi tháng. Số tháng phải đưa vào công thức là số tháng thật sự cần máy, chứ không phải độ dài dự án. Cách ước từ tiến độ có ở chia đợt gia công theo tiến độ đổ bê tông.
Thứ hai: quên rằng mua máy kéo theo nhu cầu chỗ đặt, chỗ để phôi và chỗ để thành phẩm. Xưởng chật thì khoản này có thật dù không ai ghi hóa đơn — xem bố trí xưởng gia công thép.
Thứ ba: so giá thuê với giá máy mà quên chi phí vận chuyển hai chiều mỗi lần thuê. Với máy nặng và công trường xa, thuê đi thuê lại nhiều đợt ngắn có thể đắt hơn hẳn một lần mua — cùng lý do khiến việc di dời máy không rẻ, xem di dời máy sang công trường khác.
Phương án thứ ba hay bị bỏ qua
Thuê trước rồi mua sau, hoặc thuê chính chiếc mình định mua để chạy thử trong điều kiện thật. Cách này biến tiền thuê thành chi phí kiểm chứng, và nó đáng khi chưa chắc về cấu hình cần hoặc chưa chắc về khối lượng việc sắp tới.
Phương án thứ tư là mua máy cũ, đứng giữa về vốn ban đầu nhưng đòi công thẩm định — xem hướng dẫn mua máy bẻ đai cũ và chỉ có clip máy chạy thử thì nhìn nghe gì.
Phương án thứ năm là thuê gia công thay vì thuê máy: không cần người đứng máy, không cần chỗ, nhưng phụ thuộc lịch của bên nhận — xem nhận gia công cắt thuê: chi phí và rủi ro và gia công tại xưởng hay tại công trường.
Con số nào nên ghi lại để lần sau quyết nhanh hơn?
Ghi số tháng thật sự đã dùng máy trong mỗi dự án đã qua. Sau vài dự án, con số đó nói thẳng cho biết xưởng mình thuộc nhóm dùng liên tục hay dùng từng đợt, và câu trả lời thuê hay mua gần như hiện ra ngay.
Ghi cả số lần phải chờ máy thuê vì hết máy trống. Đây là khoản không thành tiền nhưng thành chậm tiến độ, và nó là lý do thật khiến nhiều xưởng chuyển sang mua.
Khi đã có hai dãy số đó, phép tính điểm hoà chỉ còn là phép chia, và quyết định không còn dựa vào cảm giác của người quyết định lúc đó nữa.
Sai lầm thường gặp
- So giá thuê mỗi tháng với giá máy mà bỏ qua vận chuyển hai chiều mỗi lần thuê.
- Đưa độ dài dự án vào công thức thay vì số tháng thật sự cần máy.
- Quên giá trị bán lại ở vế mua, làm điểm hoà bị đẩy ra xa.
- Bỏ qua chỗ đặt máy và chỗ để phôi khi xưởng đang chật.
- Không tính thời gian chờ mỗi lần máy thuê hỏng hoặc hết máy trống.
- Bỏ qua phương án thuê chính chiếc định mua để chạy thử trong điều kiện thật.
Bài liên quan trong danh mục
Câu hỏi thường gặp
Lấy tổng chi phí sở hữu chia cho chi phí thuê mỗi tháng. Vế thuê gồm giá thuê, vận chuyển hai chiều mỗi lần và thời gian chờ máy về. Vế mua gồm giá máy, lắp đặt và đấu điện, bảo trì cùng phụ tùng, trừ đi giá trị bán lại. Dùng ít tháng hơn điểm hoà thì thuê rẻ hơn, nhiều hơn thì mua rẻ hơn.
Ở vế mua là giá trị bán lại, quên nó làm điểm hoà bị đẩy ra xa hơn thực tế. Ở vế thuê là chi phí vận chuyển hai chiều mỗi lần thuê và trả, với máy nặng và công trường xa thì thuê nhiều đợt ngắn có thể đắt hơn hẳn một lần mua. Ngoài ra là chỗ đặt máy khi xưởng đang chật.
Lấy số tháng thật sự cần máy, không lấy độ dài dự án. Nhiều công trình kéo dài nhiều tháng nhưng máy chỉ chạy vài tuần trong mỗi tháng theo nhịp đổ bê tông. Cách ước là nhìn tiến độ rồi cộng các đợt thật sự phải gia công, và ghi lại con số đó sau mỗi dự án để lần sau quyết nhanh hơn.
Có hai: tay nghề thợ và chủ động lịch. Thuê thì mỗi lần có thể là một máy khác nên thợ phải làm quen lại, mua thì năng suất lên dần theo thời gian. Chủ động lịch quyết định trong nhiều ca hơn cả phần chênh chi phí, vì công trình có tiến độ chặt không chờ được lúc bên cho thuê có máy trống.
Thuê chính chiếc định mua để chạy thử trong điều kiện thật, biến tiền thuê thành chi phí kiểm chứng. Mua máy cũ, đứng giữa về vốn nhưng đòi công thẩm định. Hoặc thuê gia công thay vì thuê máy, khi đó không cần người đứng máy và không cần chỗ, nhưng phải chấp nhận phụ thuộc lịch của bên nhận gia công.
Cần tư vấn theo nhu cầu cụ thể?
Gửi thông tin công trình/xưởng — chúng tôi tư vấn chọn đúng model theo đúng nhu cầu của bạn.
Gửi yêu cầu tư vấn